Lịch sử Việt Nam

Lịch sử quân sự, nghê thuật chiến tranh & những tướng lĩnh kiệt xuất

  • Home
  • 1000 Năm Bắc Thuộc
  • Phong Kiến
  • Lịch Sử Cận Đại
  • Xã Hội Hiện Tại
  • Lịch Sử Thế Giới

Có lẽ cái 2 tiếng "bác Hồ" đã hiện diện trong tâm trí gần như tất cả chúng ta, ngay từ những ngày thơ ấu cho đến khi trưởng thành. Nhưng có bao giờ bạn tự hỏi, 2 từ "bác Hồ" ấy có nguồn gốc từ đâu? Và từ khi nào, người dân lại gọi 1 vị lãnh đạo / chủ tịch của mình là BÁC như thế?
Dưới đây là những lý giải của nhà nghiên cứu / nữ văn sĩ Phạm Thị Hoài. Bài viết có tựa đề:
NHÂN TRƯỜNG HỢP "BÁC HỒ"
Ở góc độ văn hóa, “Bác Hồ” là người lãnh đạo hiếm hoi có gốc gác và số phận mà không một vị học trò nào của ông vượt qua nổi. Ông là con của xứ “đồ Nghệ” nổi tiếng, xứ có đạo học sâu sắc, cả ý chí lẫn nền tảng đều mạnh mẽ, nhưng quan trọng hơn, còn rất trẻ tuổi đã bôn ba xứ người, mà nước Pháp là tinh hoa văn hóa của thế giới. Sự kết hợp chất “đồ Nghệ” độc đáo và sự ảnh hưởng văn hóa Pháp, văn minh châu Âu rất sớm trong quá trình bôn ba, đã tạo nên ở ông một tư duy và cách ứng xử mềm dẻo, khôn ngoan, và cực kỳ tinh tế.
Sau nhiều bài viết của tôi có đề nghị về cách xưng hô, nhiều độc giả lưu ý rằng cha đẻ của cách xưng hô gia đình hóa trong xã hội Việt Nam thời đại xã hội chủ nghĩa là vị “cha già dân tộc”, Người tự xưng là “Bác Hồ”. Theo tôi trường hợp “Bác Hồ” không hẳn như vậy.
Khác với những nhà lãnh đạo từ Lê Duẩn trở đi cho đến sau này, Hồ Chí Minh thuộc thế hệ các nhà cách mạng xuất thân là kẻ sĩ – trí thức trong giai đoạn chuyển tiếp từ Nho học sang Tây học. Xung quanh ông là những người mà tố chất kẻ sĩ – trí thức ấy không chỉ biểu lộ qua sáng tác văn chương, từ Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Văn Hoan… đến Xuân Thủy, Cù Huy Cận, Tố Hữu, Đặng Thai Mai…
Trước khi ngôn ngữ chính trị Việt Nam trở thành một mớ hỗn hợp của sáo mòn, đơn điệu, vô nghĩa và lố bịch như chuẩn mực ngày nay, nó đã từng kết hợp được cả học vấn truyền thống lẫn ngọn lửa nóng rực của cách mạng ở những năm tháng đầu. Cho đến nay tôi chưa thấy một văn bản chính trị viết bằng tiếng Việt nào vượt qua bản Tuyên ngôn Độc lập do Hồ Chí Minh soạn thảo năm 1945 về hình thức biểu đạt lẫn chất lượng ngôn ngữ. Nó hàm súc, khúc chiết, sắc bén, chính xác, rõ ràng và cực kỳ giản dị, gần gũi. Ngay cả câu mở đầu lấy từ bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ cũng là một sự mẫu mực về dịch thuật mà không nhiều dịch giả ngày nay có thể đạt đến. Hoặc ngòi bút chính trị của Hồ Chí Minh ở thời điểm ấy đã đạt đến độ chín thích hợp nhất, hoặc giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân Pháp là chủ đề tâm huyết nhất của cuộc đời ông, nên những áng văn sau này của Hồ Chí Minh cũng không vượt qua được bản Tuyên ngôn Độc lập ấy. Song ngôn ngữ trong hai Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cũng như trong Di chúc vẫn cho thấy một khả năng diễn đạt xuất sắc. Một người làm việc với ngôn ngữ như thế không thể không có ý thức sâu sắc về cách xưng hô trong tiếng Việt.
Tôi không ngại nói quá khi khẳng định rằng trước và sau Hồ Chí Minh, khó tìm thấy một người Việt Nam nào trải qua nhiều tình huống xưng hô một cách tự nhiên và lịch lãm như ông. Trong toàn bộ lịch sử Việt Nam, chắc chắn ông là người đứng đầu nhà nước giữ kỉ lục về tiếp xúc với các tầng lớp và thành phần đủ mọi lứa tuổi trong xã hội. Chúng ta hãy điểm một số cách xưng hô của Hồ Chí Minh trong giao tiếp, trước khi “Bác Hồ” trở thành quy phạm xưng hô của người Việt [1].
Xưng hô chính thức và đầu tiên của Hồ Chí Minh trước công luận là trong câu hỏi nổi tiếng, khi ông đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945:
“Đồng bào nghe tôi nói có rõ không?“.
Đồng bào và tôi. Từ bao giờ cách gọi đồng bào này biến mất? Có lẽ từ khi ông qua đời? Mỗi lần nói với toàn thể hay một tập hợp người Việt ông đều dùng chữ đồng bào này.
+ Ở các lời tuyên bố, kêu gọi, thường là: “Hỡi đồng bào cả nước, Kính cáo đồng bào”.
+ Ở các cuộc tiếp xúc, thường là: “Thưa đồng bào hay Thưa đồng bào yêu quý”.
+ Trong thư, thường rất cụ thể: Gửi đồng bào Công giáo, đồng bào Mán, đồng bào nông gia, đồng bào hậu phương, đồng bào tản cư, đồng bào Nam bộ, đồng bào văn hóa và trí thức, đồng bào điền chủ…
Và Người xưng tôi hoặc chúng tôi (trong trường hợp ông thay mặt chính phủ phát biểu). Xưng hô cuối cùng của ông, trong Di chúc, cũng giữ nguyên như vậy: đồng bào và tôi.
Từ vị trí xưng tôi hay chúng tôi, Hồ Chí Minh uyển chuyển khi đứng trước những đối tượng khác nhau. Những người như Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh được ông gọi là tiên sinh, tướng Trần Tu Hòa là Trần tướng quân, giám mục Lê Hữu Từ là cụ, linh mục Lê Văn Yên là ngài, các ông Huỳnh Thúc Kháng, Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Văn Tố… đều là cụ, bác sĩ Vũ Đình Tụng là ngài, đại diện các gia đình hảo tâm quyên góp cho chính phủ là các bà và các ngài, hội hảo tâm là quý hội, một ông lang đạo ở Hòa Bình là ông, Chủ tịch Quốc hội là cụ chủ tịch, một bộ trưởng là cụ bộ trưởng, đại diện các ủy ban nhân dân là các bạn…
Ông thưa các cụ và các chú, thưa các ngài trong giới công thương, thưa các vị linh mục, thưa các vị kỳ lão và nhân dân, thưa anh chị em thanh niên Nam bộ, thưa toàn quốc đồng bào và toàn thể đồng chí, thưa các bậc phụ huynh, thưa các hiền nhân chí sĩ, thưa các bạn sĩ, nông, công, thương, binh, thưa các ông bộ trưởng, thưa các bạn nhân viên chính phủ, thưa hai cụ già du kích, thưa anh em họa sĩ, thưa các vị thân hào thân sĩ, thưa những người bạn Pháp ở Đông Dương, thưa ngài Thống chế Stalin, thưa bà cụ, thưa lão du kích…
Trong một bức thư gửi ngụy binh, ông gọi họ là anh em. Gửi những người đi lính cho Pháp và bù nhìn, ông viết: tôi thiết tha kêu gọi các người.
Viết thư cho gia đình mình, ông đề: Gửi họ Nguyễn Sinh và xưng tôi. Tất cả cho thấy một nghệ thuật xưng hô lão luyện.
VẬY CÁCH XƯNG HỘ “BÁC HỒ” TỪ ĐÂU RA?
Ngay trong tháng 9-1945, Hồ Chí Minh xưng là Già Hồ gửi thư đến các trẻ em yêu quý. Trong “Thư gửi thiếu nhi Việt Nam đêm Trung thu đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” 1945, ông viết:
“Các em, đây là Hồ Chí Minh nói chuyện với các em… Các em có hứa với tôi như thế không?… Chào các em, Hồ Chí Minh“…
Một phong cách không giấu ảnh hưởng của ngôn ngữ và văn hóa phương Tây. Trong thư gửi học sinh, ông cũng xưng là tôi, gọi học sinh là các em. Nói chuyện với thanh niên, ông gọi họ là các anh em, xưng là tôi. Trong một bài thơ tặng cháu Nông Thị Trưng, ông gọi cháu và xưng ta.
Lần đầu tiên Hồ Chí Minh xưng bác và gọi cháu là trong “Trả lời thư chúc mừng của Hội Nhi đồng Công giáo khu Thượng Mỹ, huyện Phú Xuyên, Hà Đông” ngày 10-5-1947:
“Bác cảm ơn các cháu. Bác khuyên các cháu: Biết giữ kỉ luật, siêng học siêng làm, yêu Chúa yêu nước. Bác hôn các cháu.”
Và kí với chữ ký là Hồ Chí Minh, chứ không với Bác Hồ. Ba tháng sau, trong “Thư gửi nhi đồng toàn quốc nhân kỉ niệm Cách mạng Tháng Tám” năm 1947, danh xưng Bác Hồ xuất hiện và từ đó được sử dụng.
Song tôi phải nhấn mạnh: Hồ Chí Minh chỉ xưng bác trong hai trường hợp quan hệ.
+ Thứ nhất, trường hợp bác – cháu, với nhi đồng. Ở tuổi 55 khi lên làm Chủ tịch nước, đối với người Việt thuở đó Hồ Chí Minh đã là một người già. Phóng viên báo chí thường gọi ông là Cụ Chủ tịch, cũng như ông gọi những người trạc tuổi mình là cụ. Trong bối cảnh ấy, xưng hô bác – cháu của Hồ Chí Minh với nhi đồng là tự nhiên. Không một nhà lãnh đạo Việt Nam nào cho đến nay biết nói với trẻ em một cách nghiêm túc và tôn trọng mà vẫn không kém thân thiết như “Bác Hồ” [2]. Cuối thư gửi nhi đồng, Hồ Chí Minh thường hôn các cháu. Trong một bức thư, ông còn hôn các cháu rõ kêu, một cử chỉ rất Tây được diễn đạt rất Việt.
+ Trường hợp xưng bác thứ hai của Hồ Chí Minh là trong quan hệ với những người kém tuổi mình. Bác ở đây không phải là bác – cháu, mà là bác – cô / chú
Chúng ta không lạ cách xưng tôi, gọi một người kém tuổi là chú hay cô nói chung, một cách xưng hô khá trung lập, không nhất thiết gây ấn tượng gia đình chủ nghĩa mà vẫn giữ được sự thân mật và khoảng cách tuổi tác. Với những người cộng sự gần gũi như Vũ Đình Huỳnh, Cù Huy Cận, Đặng Thai Mai, Nguyễn Khánh Toàn…, Hồ Chí Minh sử dụng cách xưng hô này. Xưng tôi hoặc anh. Gọi chú. Trong phạm vi quan hệ hẹp, ít khi trước công luận.
Ở Berlin, nơi có cộng đồng Nghệ An lớn nhất hải ngoại, tôi học được rất nhiều từ Việt cổ và những thói quen ngôn ngữ khác xa tiếng Việt phổ thông. Người xứ Nghệ có thể xưng tôi hay tui, tau với cha mẹ. Cha mẹ có khi gọi con cái, bất kể con trai hay con gái, là ông. Và họ dùng tràn lan bác – chú, cứ nhiều tuổi hơn xưng bác, ít tuổi hơn xưng chú, phơi phới giữa Berlin. Hồ Chí Minh, người xứ Nghệ nổi tiếng nhất, bôn ba qua bao nhiêu xứ sở, ngôn ngữ và văn hóa, có lẽ vẫn giữ thói quen xưng hô ấy.
Ông khá thọ và mất ở tuổi 79. Người hơn tuổi ông thuở ấy không nhiều. Nên với đại đa số thì ông hoặc là bác với các cháu nhi đồng theo trường hợp thứ nhất, hoặc là bác với các cô, các chú theo trường hợp thứ hai. Một lúc nào đó, ông đương nhiên trở thành và chỉ còn là “Bác Hồ”.
© Phạm Thị Hoài
Các trích dẫn:
[1] Tất cả các trích dẫn trong bài rút từ Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000.
[2] Để so sánh: năm ngoái một nhà lãnh đạo ngành giao thông Việt Nam đã chân tình khuyên học sinh như sau: “Nếu các cháu khi đi xe gắn máy không được cha mẹ đội mũ bảo hiểm thì kiên quyết không đi, hoặc hãy khóc to để được cha mẹ cho đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông”.


Hôm qua, khi tôi đăng status chúc mừng ngày 8/3, có nhắc đến “Đoá hồng Stalingrad”, nhiều bạn đã phỏng đoán đó là nữ xạ thủ Lyudmila Pavlichenko. Nhưng không phải! Hôm nay, tôi muốn kể cho các bạn nghe câu chuyện về 1 đoá hồng khác, người đã gieo rắc nỗi sợ hãi cho các phi công của lực lượng Luftwaffe (Đức) - đó là nữ phi công “ace” huyền thoại Lydia Vladimirovna Litvyak.

Nếu chỉ dùng 1 câu để nói về bà, tôi sẽ gọi bà là “Người anh hùng chưa được tuyên dương”. Bởi cuộc đời bà là 1 chuỗi những nỗi bất công, từ sự phân biệt của Xã Hội, ghẻ lạnh của cấp trên đến sự ganh tỵ của các “đồng đội” nam. Ngay cả cái chết của bà cũng trở thành hình ảnh đặc trưng cho sự phi quân tử khi 8 chiếc Me-109 (do 8 phi công nam Luftwaffe) bao vây, quyết bắn hạ cho bằng được chiếc Yak-1 đặc biệt với hình vẽ 2 bông Lys trắng 2 bên.

Đó là ngày 1/8/1943, khi quân Đức phát hiện chiếc Yak-1 của Lydia trên vùng trời Orel khi cô đang hộ tống một đơn vị IL-2 Sturmoviks. Lập tức 8 chiếc Me-109 được lệnh đón đầu để tấn công Lydia. Mặc dù 1 chọi 8, nhưng Lydia cũng khiến phi đội Đức phải vất vả mới hạ được cô. Chiếc máy bay của Lydia rơi xuống gần làng Dmitriyevka, thuộc quận Shakhterski. Thi thể cô được dân làng mai táng ngay dưới thân chiếc Yak-1 với 12 ngôi sao vàng trên thân. Khi hi sinh, Lydia mới 21 tuổi.

Không có báo cáo nào về cái chết của Lydia, Dân ủy nội vụ NKVD (cơ quan chuyên môn "đâm sau lưng chiến sĩ" của Liên-Xô) mau chóng liệt cô vào trường hợp mất tích trên chiến trường. Thời gian đó, theo chỉ thị của Stalin: "Mọi chiến sĩ rơi vào tay quân địch đều bị coi là kẻ phản bội", người ta đối xử với đồng đội bị bắt như kẻ thù. Các cơ quan và tướng lĩnh đều nhất trí từ chối đề nghị của đơn vị, xin truy tặng huân chương hoặc danh hiệu cho Lydia. Thậm chí NKVD còn tiến hành một cuộc điều tra xem cô có phản bội hay không, nhưng cuối cùng không phát hiện ra điều gì.

Mùa hè năm 1946, đồng đội của Lydia tiến hành một cuộc tìm kiếm tại khu vực cô mất tích nhưng không thu được kết quả. Một đài tưởng niệm cô: một tảng đá với 12 ngôi sao vàng, được dựng lên tại Krasy Luch vùng Donetsk.

Từ năm 1946 tới năm 1968, qua báo chí, đài phát thanh và TV, người thợ máy và cũng là bạn thân của Lydia - Inna Pasportnikova - đã tiến hành nhiều cuộc gặp gỡ với các nhóm hướng đạo học sinh vùng Donbass để nhờ họ để ý, tìm kiếm ở các nghĩa trang bỏ hoang, những nơi có tàn tích máy bay hoặc các bãi chiến trường. Năm 1968, một tờ báo lặp lại yêu cầu phong danh hiệu anh hùng Xô-viết cho Lydia, nhưng KGB (cơ quan kế tục NKVD) lại tiếp tục từ chối với lý do kinh điển: không tìm thấy xác.

Đến năm 1979, các hướng đạo sinh mới tìm ra một xác máy bay rơi trên cánh đồng vùng Dmitrievka (sau hàng loạt những xác máy bay rơi với hàng trăm phi công tử trận chưa được nhận diện). Họ được người dân kể lại rằng, một phi công nữ đã được chôn phía dưới, nhưng thi thể cô đã được cải táng 10 năm trước đó tới một nghĩa trang dân sự.

Mãi đến tháng 3/1986, Cục lưu trữ trung ương thuộc Bộ quốc phòng Liên Xô mới xác nhận nữ phi công rơi ở vùng Dmitrievka là Lydia. Năm 1988, tên của Lilya chính thức được ghi tại nghĩa trang nói trên. Hồ sơ của cô được cập nhật từ mất tích thành hi sinh.

Ngày 5 tháng 5 năm 1990, chủ tịch Mikhail Gorbachev ký quyết định truy phong Lydia danh hiệu "Anh hùng Liên Xô", truy tặng huân chương Sao Vàng. Một đám tang theo nghi thức quốc gia đã được tổ chức tại Moscow năm đó để tưởng niệm Lydia. Và trớ trêu thay, một năm sau, Liên Bang Xô-viết sụp đổ!

//

Lydia Vladimirovna Litvyak sinh ra trong gia đình lao động Do Thái tại thủ đô Moscow. Trong những năm 30, phong trào Osoaviakim - câu lạc bộ hàng không bán vũ trang, rất thịnh hành ở Liên Xô. Từ khi 14 tuổi cô đã tham gia câu lạc bộ hàng không Chkalov, 15 tuổi cô nhận được giấy phép lái máy bay và bắt đầu bay độc lập. Lydia là một trong những phi công xuất sắc, cô yêu thích bay biểu diễn và hay thực hiện các đường bay rất mạo hiểm.

Năm 1935, gia đình Lydia trở thành nạn nhân của cuộc "Đại thanh trừng". Cha cô bị bắt và sau đó bị xử tử khiến chị em Lydia phải trốn chui trốn nhủi và đổi sang họ mẹ để được bình yên. Chỉ cần các nhân viên của NKVD phát hiện ra, bất kỳ lúc nào Lydia cũng có thể bị bắt, cấm tham gia làm bất kể việc gì và có thể bị "xử tử” không công khai.

Khi chiến tranh nổ ra, rất nhiều nữ phi công từ khắp đất nước xin gia nhập quân đội nhưng tất cả đều bị từ chối: "Tình hình có thể xấu, nhưng chưa đến nỗi tuyệt vọng tới mức các cô gái phải bay". Nhiều nữ phi công lâu năm của phong trào Osoaviakim, có số giờ bay còn nhiều hơn nam giới đã bị bỏ lại, để rồi chết hoặc mất tích trong các cuộc tàn sát của Đức Quốc Xã. Một thời gian sau, khi các diễn biến xấu dồn dập xảy ra trên mặt trận, với mục đích củng cố tinh thần quân sĩ, Stalin đã đồng ý cho Marina Raskova (nữ phi hành gia nổi tiếng Liên-Xô những năm 30, một trong 3 người xây dựng nên đường bay Siberian) thành lập 3 trung đoàn nữ phi công: Trung đoàn tiêm kích 586 IAP, trung đoàn oanh tạc cơ 587 BAP và trung đoàn oanh tạc ban đêm 588 NBAP. Tất cả các thành viên phi đoàn, từ phi công, thợ máy, hoa tiêu… đều là nữ. Và Lydia là một trong những nữ phi công tình nguyện đầu tiên được chấp nhận.

Nhưng trong khoảng 1 năm sau đó, các cô gái Xô-viết chưa bao giờ thực sự tham chiến bởi những nhiệm vụ cấp trên giao cho, phần lớn chỉ là tuần tiễu dọc sông Volga hoặc trên vùng thảo nguyên Saratov. Vì vậy một số phi công, trong đó có Lydia, cảm thấy rất thất vọng. Nhiều cuộc tranh luận đã nổ ra với cấp trên. Kết quả là tháng 9/1942, chỉ huy trung đòan 586, nữ thiếu tá Tamara Kazarinova, với lý do "chấn chỉnh nội bộ", đã gửi một số chiến sĩ thuộc loại "khó giác ngộ" ra mặt trận thực sự. Và Lydia cùng 7 nữ phi công khác được bố trí vào 1 đơn vị nam giới: trung đòan tiêm kích 286.

//

Chiến công đầu tiên của Lydia ghi được vào ngày 13/9/1942 khi cô bay ở vị trí wingman số 2, hỗ trợ cho trung đoàn trưởng. Khi gặp một đội 3 chiếc cường kích Junkers Ju-88, họ tấn công. Chỉ huy của Lydia hạ một chiếc, Lydia hạ chiếc thứ hai. Ngay khi đó, cô phát hiện đồng đội Raya Bielayeva đang bị một chiếc Bf-109 theo rất sát. Lydia ngoặt chéo đường bay, tiếp cận và bắn hạ chiếc Bf-109 này. Viên phi công Đức (một phi công “ace” thuộc đơn vị Richthofen), đã rất ngạc nhiên khi gặp đối thủ của mình: một nữ phi công trẻ đẹp vài ngày sau đó. Cần biết rằng thành tích bắn rơi 2 máy bay địch trong phi vụ đầu tiên trên chiến trường là cực hiếm, ngay cả đối với một phi công nam. Kể từ đó, Lydia trở nên nổi tiếng. Báo chí, bộ máy tuyên truyền của Stalin đã biến cô gái xinh đẹp với bộ tóc vàng, mắt to màu xám - con gái "kẻ thù của nhân dân" - trở thành biểu tượng cho các cô gái Liên-Xô lúc đó noi theo.

Bên ngòai buồng lái chiếc Yak-1 của Lydia, ở hai bên sườn, cô tô điểm cho “chiến hữu” của mình bằng hai bông lys trắng, nhưng mọi người thường nhầm thành hoa hồng. Chính vì vậy mà cô có biệt danh “Đoá hồng trắng". Lydia rất thích hoa và thường mang theo các bó hoa dại khi chiến đấu. Inna Pasportnikova, thợ cơ khí của Lydia kể lại, cô thường kẹp một bức bưu ảnh với hình hoa hồng vàng trên bảng điều khiển.

Nhưng danh tiếng thường đi kèm với sự ganh tỵ. Mọi người, nhất là các nam “đồng chí” đôi khi tỏ thái độ ra mặt với cô gái trẻ. Chính điều đó, khiến Lydia điên tiết và càng chọc điên họ nhiều hơn bằng cách ghi điểm trên chiến trường. Mỗi khi trở về căn cứ sau 1 phi vụ, Lydia thường thực hiện các bài nhào lộn dựng tóc gáy ở độ cao rất thấp khiến các chỉ huy phía dưới cảm thấy khó chịu. Đó cũng là lý do cô phải thuyên chuyển liên tục: từ sư đoàn 286 sang trung đoàn 437, rồi tới trung đoàn cận vệ số 9. Lydia chỉ cảm thấy thoải mái khi cô chuyển sang trung đoàn 296, do thiếu tá Nikolai Baranov, một người rất thông cảm với cô, chỉ huy. Suốt thời gian đó, trình độ bay điêu luyện của Lilya trên chiếc máy bay có hình bông hồng trắng đã khiến cô đã trở nên nổi tiếng cả trong giới phi công Luftwaffe. Cũng từ đó, Lilya nhanh chóng trở thành mục tiêu săn đuổi của các phi công Đức.

Ngày 22/3/1943, Lydia bị tấn công bởi 4 chiếc Messerschmitt Bf-109s trên vùng trời Kharkov. Bốn chiếc Bf-109s quây tròn cô vào giữa với mục đích quyết bắn hạ “Đoá hồng trắng”. Kết quả, Lydia bắn rơi 2 chiếc, 2 chiếc còn lại bỏ chạy. Hai phi công bị bắn hạ là trung úy Franz Müller và thượng sĩ Karl-Otto Harloff.

//

Lydia bị thương 3 lần và cả 3 đều diễn ra trong khoảng thời gian giữa mùa xuân và mùa hè năm 1943 - thời kỳ có các cuộc không chiến dày đặc. Lần đầu vào ngày 15/3, ngày cô bắn hạ một chiếc Ju-88, nhưng sau đó bị trúng đạn của chiếc Me-109s hộ tống. Mặc dù trúng đạn, cô vẫn tiếp tục bay và bắn hạ thêm 1 chiếc Ju-88 khác. Lydia hạ cánh thành công tại cắn cứ, sau đó nằm viện cho tới tháng 5.

Sau khi cô trở về đơn vị, trung đòan 296 IAP đã được đổi tên thành trung đoàn tiêm kích cận vệ 73 vì những chiến công của họ. Ngày 16 & 18 tháng 5, cô bị thương thêm 2 lần nữa. Cả hai lần cô đều phải hạ cánh trong vùng Đức chiếm đóng, lần đầu tự vượt qua chiến tuyến trở về, lần thứ hai được cứu bởi một phi công đồng đội.

Thời gian giữa năm 1943, các cuộc không chiến ở vùng Kursk trở nên dày đặc, mỗi ngày các phi công phải thực hiện liên tiếp nhiều phi vụ, Lydia trở nên mệt mỏi vì các vết thương liên tiếp. Nhưng so ra, những đau đớn về thể xác không là gì so với nỗi đau về tinh thần. Những tin xấu liến tiếp ập đến và chực chờ đánh gục “Đoá hồng trắng”

Ngày 6 tháng 5, chỉ huy của Lydia, người rất tin tưởng và thông cảm với tính tình của 1 cô gái trẻ con như Lydia, thiếu tá Nikolai Baranov (24 chiến công) bị rơi máy bay và hy sinh.

Ngày 21 tháng 5, người yêu Lydia, phi công “ace” Aleksey Solomatin (17 chiến công) thuộc sư đoàn tiêm kích 73, bị bắn hạ ngay trước mắt cô.

Ngay đến người bạn thân của Lydia, nữ phi công “ace” Katya Budanova (6 chiến công) cũng hi sinh trong thời gian đó.

Mặc dù lúc này Lydia đang là một "nữ anh hùng" - một ngôi sao của bộ máy tuyên truyền cách mạng, cô đã suy sụp cả thể chất lẫn tinh thần. Nhưng thay vì rút cô về hậu cứ, các tướng lĩnh vẫn quyết định để cô chiến đấu ngoài mặt trận. Bởi hơn ai hết, họ đang cần những chiến công của cô để cổ vũ cho toàn quân.

Và ngày 1/8 năm đó… Lydia đã thực hiện phi vụ cuối cùng của mình. Một mình “Đoá hồng trắng” đương đầu với 8 phi công thiện chiến của không quân Đức và hy sinh. Khi chiếc Yak-1 của Lydia cắm đầu xuống làng Dmitriyevka, trên thân nó tròn trĩnh 12 ngôi sao vàng. Khi ấy, Lydia Vladimirovna Litvyak chưa tròn 22 tuổi (cô sinh ngày 18/8/1921).

Lilya đã thực hiện thành công 168 phi vụ, bắn rơi trực tiếp 12 máy bay địch (thêm 3 chiếc cùng với đồng đội) bao gồm các loại Me-109, Ju-88, FW190. Các chiến công của Lilya thực hiện khi cô bay với 2 loại máy bay La-5 và Yak-1 (nhưng phần lớn là chiếc Yak-1 với 2 đoá hoa Lys). Các huân chương của cô gồm huân chương Cờ đỏ, huân chương Sao đỏ, hai lần được tặng huân chương Chiến tranh vệ quốc.

© son.le
Saigon / 2016

Tôi từng nói rằng “Tôi có một quan điểm riêng về người lãnh đạo: một người lãnh đạo tốt – xấu không phải theo lịch sử ghi nhận hoặc theo miệng lưỡi thế gian phán xét. Người lãnh đạo tốt là người có quanh mình những cận thần trung thành và sẵn sàng chết vì mình. Sự tôn sùng và kính trọng của kẻ dưới, chính là quy chuẩn của người lãnh đạo giỏi.“

Tuy vậy sẽ có những người còn xếp cao hơn. Vị tướng đó có lẽ còn đứng cao hơn cả cái quy chuẩn mà tôi đặt ra ở trên đây: Thống Chế Erwin Rommel – người của đệ tam Quốc Xã. Con người không chỉ có quanh mình sự tôn sùng của người dưới, biểu tượng “bất khả chiến bại” của dân tộc Đức những năm tháng chiến tranh. Mà ông còn nhận được sự kính trọng của kẻ thù.

Bắc Phi, năm 1941, một trong những mặt trận chính của chiến tranh thế giới thứ 2 giữa phe Trục (Đức – Ý – Nhật) và phe Đồng Minh (Anh – Mỹ - Liên Xô). Năm 1940, trùm phát xít Ý Mussolini tuyên chiến với Pháp và Anh, đồng thời kéo quân vào Bắc Phi. Cần biết rằng nắm được Bắc Phi, Ai Cập và kênh đào Suezs là nắm được cửa ngõ thế giới và một dải thuộc địa rộng mênh mông. Vị trí chiến lược và tiềm năng to lớn đã biến Bắc Phi trở thành mặt trận khốc liệt không kém Thái Bình Dương. Nơi đây, trên sa mạc Bắc Phi này, những chiến công nhuốm màu huyền thoại của Erwin Rommel đã bắt đầu. Biến ông trở thành một trong những vị tướng xuất chúng nhất thế kỷ XX, cùng biệt danh “Cáo già sa mạc”.

Khi Mussolini kéo quân vào Bắc Phi, người ta nhận ra sức mạnh của quân đội Ý đã để lại từ thời La Mã. Trong cuộc chiến đầy háo hức nhưng non trẻ của mình ở lịch sử hiện đại, người Ý đã nhanh chóng nhận gáo nước lạnh. Đối đầu với họ khi ấy là Richard O'Connor – chỉ huy quân đội Anh, một vị tướng rất giỏi. Trong vòng hai tháng, O'Connor đẩy bật quân đội Ý ra khỏi Ai Cập, tiến một lèo 1.300km, và tiêu diệt 10 sư đoàn của Italia. Mussolini hoảng hốt. Hitler bắt buộc phải cứu đồng minh của mình. Và quốc trưởng điều “lính chiến” của ông, người sau này sẽ trở thành huyền thoại mà ta nói ở bài viết này: Erwin Rommel tới Tripoli.

Erwin Rommel lập tức chứng tỏ mình khác biệt thế nào. Vừa nắm quyền sư đoàn Tia chớp số 5, (sau là Sư đoàn Thiết giáp số 21), Rommel lập tức phản công. 

Chúng ta tạm dừng lại một chút. Trước khi nói tiếp trận đánh ở Bắc Phi, tôi cần nói qua cho các bạn về cách đánh trận của Erwin Rommel. Cách đánh của Rommel có gì đó rất liều lĩnh. Vâng, là liều lĩnh. Trong các trận đánh giáp lá cà, Rommel cho lực lượng mạnh nhất của mình tập trung vào một điểm, một mục tiêu và dồn lực vào đó, rồi tiến tới luôn, chấp nhận bỏ hai bên sườn trống trải. Khi gặp kháng cự, vẫn cứ cho quân khai hỏa vào đúng điểm đó, làm tan rã ý chí phòng thủ của đối phương và khiến đối phương phải chấp nhận đầu hàng. Cách đánh này gây choáng váng cho cả đối thủ lẫn các vị tướng đồng cấp tại Berlin. Nhưng đấy là cách đánh đã giúp ông đánh bại nước Pháp vào năm 1940. Phong cách Rommel có cùng kiểu đánh với Hannibal, Thành Cát Tư Hãn hay Quang Trung Nguyễn Huệ trong lịch sử, có thể tóm tắt bằng 6 chữ: TÁO BẠO, ĐIÊN CUỒNG VÀ TỐC ĐỘ. Lực lượng của Rommel tại Pháp được mệnh danh là “Sư đoàn ma”, bởi tiến nhanh đến mức Bộ Chỉ huy Tối cao của quân Đức mất liên lạc vì không biết nó đã đi đến đâu. 

Rommel đã dùng cách đánh đó đưa đến Bắc Phi.

Chúng ta nói tiếp ở mặt trận Bắc Phi. Sư đoàn Thiết giáp số 21 của ông tung những đòn sấm sét đầy bất ngờ vào quân của tướng O’Connor. Tốc độ hành quân vũ bão đưa sư đoàn này vượt qua khu vực núi rừng Jebel Akhdar để tiến tới thành phố chiến lược Tobruk vào ngày 10/4/1941, dù trước đó quân Italia vừa bị đẩy lùi 1300km. Đòn đánh như trên trời rơi xuống của Rommel đẩy tướng O’Connor – người trước đó còn là anh hùng bị đẩy vào mê hồn trận, cuối cùng lạc vào trận địa phục kích của Đức - Ý và bị bắt làm tù binh. 

Nhưng đó mới chỉ là phong cách của Rommel. Từng đó chưa đủ để biến ông thành huyền thoại, mà còn ở sách lược thông minh tại Tobruk.

Trong trận Tobruk, Rommel đã bao vây căn cứ quân sự của Anh. Tin nổi không? Chỉ với 400 xe tăng, mà bao vây một đội quân nhiều hơn tới 370 chiếc, trong khi quân Anh sở hữu tới 770 xe tăng. Hóa ra Rommel đã cho một kỹ sư của mình chế tạo xe tăng giả bằng gỗ khiến cho quân Anh tưởng Đức quá mạnh và không dám tấn công. Thế đấy ! Và phần còn lại chỉ là chuyện quân Đức sẽ tấn công Tobruk như thế nào.

Rommel mở liên tiếp các đợt tấn công nhưng không thu lại nhiều kết quả. Một trong những lý do ông không thu được kết quả khá là hài hước. Vì tiến quá nhanh nên sơ đồ bố phòng của cảng Tobruk không kịp chuyển đến cho Rommel. Tấn công mãi không được và bị tổn thất, Rommel đã thốt lên: “Nếu tôi phải chiếm địa ngục, tôi sẽ dùng người Úc để chiếm nó và người New Zealand để giữ nó.”

Cuối cùng Rommel chơi chiêu, ông không bao vây, giả vờ rút lui. Quân Anh thấy ngon ăn liền đưa quân rượt theo. Phòng tuyến phòng thủ liên quân giãn ra, Rommel lập tức quay ngược lại phản công. Cú “hồi mã thương” tuyệt đẹp này khiến quân Anh ăn một đòn chí tử. Từ đó rút thẳng vào Tobruk, cố thủ không dám đánh nữa. Nhưng quá muộn, Rommel quyết định thọc sâu vào sườn quân Pháp ở Bir Hakeim. Mất Bir Hakeim, phòng tuyến phòng ngự kiên cố cuối cùng của quân đồng minh đã mất. Ngày 21/6/1942, Rommel mở đợt tấn công cuối cùng, quân đồng minh thất bại thảm hại ở Tobruk và đành phải rút khỏi Ai Cập, Đức toàn thắng.

Cho đến cái ngày 21/6 ấy, quân của “Cáo sa mạc” Erwin Rommel vẫn ít hơn quân đồng minh !

Trận Tobruk khiến Anh thất bại nặng nề. Trước khi Rommel đến, O’Connor chỉ cần thêm 2 tuần nữa là có thể kéo đến Tripoli và chấm dứt thế chiến II tại Bắc Phi. Sau khi Rommel tới, Bắc Phi là của quân Đức. 

Thất bại thảm hại tại Tobruk đã khiến Thủ tướng Anh Winston Churchill phải ra điều đình trước quốc hội. Lý do vì Churchill đã tách bớt quân Anh về hỗ trợ cho mặt trận Hy Lạp. Nhưng Churchil không gọi đó là sai lầm, bởi dù có đầy đủ quân chăng nữa, họ cũng không chống được Rommel. Trong phiên điều trần trước quốc hội, Churchill đã hét lên với phía đối lập rằng: “Chúng ta có một đối thủ rất dũng cảm và tài giỏi, và tôi có thể nói rõ hơn với các ông là phía bên kia của cuộc chiến tàn phá này có một vị tướng quân vĩ đại.” Còn lời khen nào giá trị hơn lời khen của kẻ thù?

Thống chế Anh Montgomery, Đại tướng Hoa Kỳ George Patton đều coi cuộc đối đầu với Erwin Rommel là lẽ sống còn danh dự đại tướng của họ tại Bắc Phi. Tức giận và tôn trọng, háo hức và sợ hãi là tâm lý chung của những kẻ thù khi đối đầu với Rommel. 

Bắc Phi đã biến Rommel thành huyền thoại, một huyền thoại khủng khiếp tới mức mà Bộ Tư Lệnh Tối Cao Anh Quốc phải gửi gấp một công hàm về cho London. Công hàm có nội dung sau: “Ông bạn Rommel của chúng ta đã trở nên một ảo thuật gia hay một ông kẹ đối với quân đội chúng ta, thể hiện một mối nguy hiểm trầm trọng. Quân đội đang nói quá nhiều về ông ta. Mặc dầu chắc chắn ông là một người rất cương nghị và có khả năng, nhưng chắc chắn ông không hề là một siêu nhân. Việc binh sĩ của chúng ta gán cho ông những quyền lực siêu nhiên quả là một điều đáng tiếc. Điều quan trọng là chúng ta không bao giờ được dùng từ Rommel mỗi khi muốn nhắc đến kẻ thù của chúng ta tại Lybia. Chúng ta phải gọi là “người Đức” hay “địch quân”, và dứt khoát không để cho bị thôi miên vì cái tên Rommel nữa. Tất cả những cấp chỉ huy đều phải hiểu rằng đây là một điểm tâm lý cực kỳ quan trọng.”

***

Một trong những cái sai lớn của Hitler tôi tin rằng đó là việc tin người Ý nhiều hơn tin người Nhật. Mặt trận Thái Bình Dương hầu như để một mình Nhật gánh vác, trong khi mặt trận Bắc Phi thì quân Ý không giúp được nhiều cho Rommel. Tài năng của Rommel không cứu vãn được sự cô đơn nước Đức ở mặt trận Bắc Phi. Trong cái thế 1 chọi 10, sự vĩ đại của “Cáo sa mạc” vẫn biết cách đánh bại quân đoàn số 2 của Hoa Kỳ. Nhưng thế là không đủ. Hitler tiếp tục phạm sai lầm chiến lược thứ hai đó là đánh Liên Xô quá sớm. Trận chiến Stalingrad đã lấy đi của nước Đức quá nhiều. Dân tộc Nga, mùa đông nước Nga và sự quyết liệt đáng sợ của Stalin đã khiến Đức bị chôn chân, không tiến thêm được nữa. Và rồi Hitler sửa sai bằng một cái sai nữa: bộ tổng tham mưu dồn sức cho Thống chế Friedrich Paulus ở mặt trận Liên Xô, trong khi không thể tiếp tế cho thống chế Rommel ở mặt trận Bắc Phi. Cuối cùng Paulus gây thất vọng, trong khi Rommel lực bất tòng tâm. Đức quốc xã mất cả chì lẫn chài. Hitler gọi Rommel quay về Berlin, để lại một Bắc Phi nhuốm màu huyền thoại của ông trên nỗi sợ hãi của kẻ thù. Nhưng trên tất cả, để lại một tham vọng thống trị thế giới của Hitler mãi mãi dập tắt ngày hôm ấy.

Điều khiến Rommel được tôn vinh lên tầm vĩ đại, được kính trọng, dù là người của Đức quốc xã. Có lẽ còn bởi vì ông không chỉ là một vị tướng xuất chúng với những chiến thuật hay chiến công trên chiến trường mà còn vì tinh thần thượng võ. Đơn vị Africa Korps dưới sĩ chỉ đạo của ông đã bác bỏ những mệnh lệnh của Hitler để truy tìm và ám sát người Do Thái. Các tù binh phe Đồng Minh được cư xử chuẩn mực theo đạo đức con nhà binh và gần như không có một báo cáo nào về hành động vô đạo đức. Trong phiên tòa xét xử sau thế chiến thứ II, binh đoàn của Rommel là binh đoàn không bị kết án “Tội ác chiến tranh”. Đối xử với quân thù đã vậy, với những người lính của mình, ông là hiện thân của sự mẫu mực và uy nghiêm. Rommel đã đúc kết rằng: “Có được sự tự tin là điều cần thiết đối với một người chỉ huy. Ông ta phải tập luyện sự thận trọng, quan tâm tới các binh sĩ, sống chung với cực khổ và trên hết giữ bản lĩnh. Nhưng khi ông ta đã có sự tự tin đó, những binh sĩ của ông ta sẽ theo ông ta qua địa ngục và biển cả.”

Màu sắc bi ca của Rommel tiếp tục được viết nên ở những ngày tại Châu Âu, Normandie – địa điểm sau này đã trở thành bước ngoặt cho cái chết của đệ tam đế chế, còn vấn vương tiếc nuối của cái tên Erwin Rommel. Rommel khi trở về Berlin đã đề xuất một điểm quan trọng: Xe tăng không thể đi xa, và cuộc tấn công của quân Đồng Minh phải được chặn đứng ngay từ các bãi biển bằng những xe tăng. Đề xuất không được chấp nhận. Rommel được giao nhiệm vụ xây dựng tuyến phòng thủ dọc theo bờ biển Đại Tây Dương. Đã là tướng tài thì tấn công giỏi, phòng thủ cũng giỏi. Dưới sự trực tiếp chỉ đạo của ông, công việc diễn ra với tốc độ đáng kinh ngạc, hàng triệu bãi mìn, hàng ngàn ụ bê tông bảo vệ xe tăng và các chướng ngại vật đã được dựng lên trên các bãi biển và các vùng thôn quê. 

Ngày D-Day, 6/6/1944, cuộc đổ bộ lớn nhất trong lịch sử quân sự tại bãi biển Normandie (Pháp) đã diễn ra.

Hôm ấy, Rommel không có mặt tại Normandie.

Vì ngày hôm trước, nhà cầm quân nổi tiếng này đã trở về nhà để gây bất ngờ trong ngày sinh nhật của vợ.

Có lẽ rằng “Sống ở trên đời điều khó nhất là làm một trang nam tử / Ý chí vững vàng mà tình cảm lại mênh mang”

Nhưng vận mệnh của Đệ tam quốc xã có lẽ cũng đã hết, không phải ngày đó thì là ngày khác, có ông hoặc không có ông cũng vậy. Cánh én đó không thể làm nên mùa xuân nữa, vì sai lầm chiến lược trước đó của Đức quốc xã đã đẩy tất cả mọi thứ xuống địa ngục rồi.

***

Ngày 14/10/1944, giấc mộng bi ca của “Cáo già sa mạc” Erwin Rommel dừng lại. Ông bị buộc tội tham gia âm mưu ám sát Hitler, nhưng vì tên tuổi quá lớn trong lòng dân chúng Đức nên người ta không dám tử hình ông mà bức tử ông bằng thuốc độc. Đổi lại gia đình ông, binh sĩ dưới quyền ông được an lành.

Erwin Rommel mãi mãi không tỉnh dậy nữa. Để lại sau lưng một bản trường ca nhuốm màu huyền thoại, của con người vĩ đại, tài năng quán triệt. Sống và chết trên bộ quốc phục và tình yêu nước Đức nồng nàn. Cùng một câu nói đến nay còn bất tử về kẻ làm tướng: “Mồ hôi tiết kiệm máu. Máu tiết kiệm mạng sống và trí thức tiết kiệm cả hai.”

***

SaiGon, 12.2015

(Dũng Phan)
 — 


“Tôi sinh tại Siberia. Mẹ tôi là giáo viên và cha tôi – một kỹ sư mỏ”, Nina Lobkovskaya tự giới thiệu về mình như thế. 

“Nhà tôi có 5 anh chị em, và tôi là con lớn nhất. Vào những năm 30, gia đình tôi chuyển tới Tajikistan ở Trung Á, vì cha tôi ốm và bác sĩ khuyên ông nên tới nơi có khí hậu ấm áp. Tajikistan lúc ấy là một nước cộng hòa Xô viết. Tôi kết thúc những năm trung học ở đó rồi ra mặt trận”. 

Giống như những người cùng tuổi, Nina đã ước mơ được học tiếp và bà định học tại một trường đại học kỹ thuật. Chiến tranh đã làm thay đổi mọi thứ. “Chiến tranh luôn làm tổn thương tất cả chúng ta. Những người thanh niên yêu nước và nóng lòng muốn bảo vệ Đất Mẹ. Chúng tôi thiết tha mong được chiến đấu”.

Nina Lobkovskaya viết trong hồi ký của bà: “Lúc đầu chúng tôi chỉ mới biết về cuộc chiến qua những bài báo và bản tin radio, và chúng tôi nghĩ rằng chỉ cần chưa đầy một năm là quân địch sẽ bị đẩy lùi. Nhưng bọn Quốc xã tiến tới ngoại ô Moskva một cách nhanh chóng trước khi chúng bị ngăn lại. Vào mùa thu năm 1941, thành phố của chúng tôi bắt đầu đón nhận những người sơ tán, rồi sau đó là những đoàn quân nhân bị thương. Rồi những người tôi quen, từng người một lên đường ra mặt trận. Cha tôi ra mặt trận năm 1942”. 

Không lâu sau đó, xạ thủ súng máy Alexei Lobkovsky (cha của Nina) anh dũng hi sinh trong trận đánh bảo vệ thành phố Voronezh.

“Lòng căm thù quân giặc sôi lên trong con người tôi. Chính lòng căm thù đó thôi thúc quyết tâm gia nhập quân đội của tôi. Nhưng mọi việc không đơn giản bởi khi ấy, phụ nữ không được khuyến khích ra mặt trận”.

Để tiến gần hơn đến mong muốn của mình, cô gái 17 tuổi Nina vào học trường y và chăm sóc những thương binh trong một bệnh viện. Tháng 10 năm 1942, giấc mơ ấp ủ bao lâu của Nina đã thành sự thật khi cô được cử đến học tại một ngôi trường đào tạo lính bắn tỉa nữ mới được thành lập tại làng Veshnyaki, gần Moskva. 

300 cô gái đủ tiêu chuẩn sức khỏe được chọn để học. Nhiều người đã mất tin tức với người yêu ở mặt trận hoặc họ đã hi sinh. Và tất cả họ, giống như Nina, đều khao khát được ra mặt trận. Mùa đông năm 1942 thật khắc nghiệt. Mỗi ngày các cô gái phải học từ 10 tới 12 tiếng, Nina và những đồng chí học trườn bằng bụng, đào hào chiến đấu, ngụy trang và bắn vào những mục tiêu di chuyển. Sau 9 tháng, họ tới chiến trường. 

“Cuối cùng thì cái ngày chúng tôi mơ ước đã đến”. Nina Lobkovskaya viết: “Khi ánh nắng lấp lánh chiếu lên khung cửa sổ, với ba lô, súng bắn tỉa và áo khoác được cuốn sau lưng, chúng tôi hành quân qua những con phố của Moskva tới nhà ga Riga, hát bài hát “Tạm biệt thành phố mến yêu ơi”… Nhóm 50 nữ thiện xạ được biên chế vào đạo quân số 3 tại mặt trận Kalinin. Sau đó cấp trên đưa ra một quyết định thành lập đội lính bắn tỉa từ nhóm này và điều họ tới những nơi cần họ nhất. Trong một nghi thức đặc biệt, mỗi nữ thiện xạ đều chạm vào cuốn sổ tay được dùng để ghi nhận mỗi phát bắn vào quân thù, và cầu nguyện tất cả những phát bắn sẽ đều chính xác. Và điều đó là khởi đầu tại mặt trận trong tiểu sử của người nữ anh hùng Nina Lobkovskaya…

“Khi mới đến, chúng tôi dành hẳn vài ngày để quan sát những vị trí cố định của chiến tuyến địch”, Nina Lobkovskaya hồi tưởng. "Lúc trở về trại vào ban đêm, trí óc chúng tôi ghi nhớ những hình ảnh của địa hình trong mọi chi tiết, mọi chiếc lá, mọi trảng cỏ. Và khi chúng tôi trở lại vị trí quan sát vào sáng hôm sau, chúng tôi nhận ra mọi thay đổi, kể cả nhỏ nhất. Kĩ năng quan sát mà chúng tôi học được ở khóa đào tạo tỏ ra rất hữu dụng”. Bên cạnh đó, một kỹ năng bắt buộc mà người thiện xạ phải có khác là khả năng bắn trúng mục tiêu. Một thiện xạ không thể mắc lỗi. Mỗi cô gái trong đại đội lính bắn tỉa đều háo hức được lập chiến công. 

Và cơ hội đã nhanh chóng đến. Thử thách đầu tiên cho đại đội bắn tỉa này là yểm trợ cho những người lính trinh sát Xô Viết tấn công thăm dò vào hậu phương địch. Trong tháng đầu Nina Lobkovskaya đã tiêu diệt sáu lính và sĩ quan địch. Một tờ báo chiến trường viết về bà: "Nina Lobkovskaya có con mắt sắc và bàn tay vững chắc. Những phát bắn của cô chưa bao giờ trật. Hàng tá quân nhân Quốc xã đã bị tiêu diệt vì lòng can đảm của nữ thiện xạ". Cho tới tháng 5 năm 1945, bọn quốc xã bị tiêu diệt trong cuốn sổ theo dõi của Nina tăng tới 89. Đó là chiến công của riêng bà, nhưng chỉ là sự báo thù nhỏ so với những gì mà Nước mẹ yêu dấu của bà phải trải qua. 

Một sự kiện mà bà nhớ mãi: “Nó đã xảy ra ở vùng Kalinin”, Nina Lobkovskaya hồi tưởng. “Tôi và một đồng đội được cử đến nơi mà những người lính của chúng tôi luôn bị bắn tỉa mỗi ngày. Không ai nói được bọn địch bắn từ đâu. Cúng tôi bắt đầu quan sát. Chúng tôi dành một tuần, kiểm tra địa hình khu vực một cách kĩ lưỡng. Chúng tôi bắt đầu quan sát trước khi mặt trời mọc, nên quân địch không thể phát hiện ra chúng tôi. Và một ngày, thật bất ngờ, tôi nhìn bằng ống ngắm và phát hiện ra một tên Đức mặc áo trắng, áo khoác cổ đứng phủ lên chân và đội mũ lưỡi trai. Tôi rất sốc vì hắn ở rất gần! Tôi ước lượng khoảng cách và nhắm bắn. Đó là một phát bắn quá vội vàng, viên đạn chỉ phá nát miếng kim loại vành mũ của hắn. Hắn nhanh chóng nhận ra viên đạn đó đến từ một người lính bắn tỉa, hắn dứ nắm đấm về phía tôi và biến mất sau lớp ngụy trang. Tôi còn nhớ khá rõ về hắn: một thanh niên trẻ, bề ngoài cũng được. Tối đó tôi không thể ngủ được, đầu tôi như căng ra khi tôi cố nhớ lại mọi chi tiết, kể cả nhỏ nhất. Sau đó, một trò chơi săn mồi bắt đầu, mỗi bên vờn lần nhau. Tôi cảm nhận được sự hiện diện của hắn, và hắn cũng vậy, tôi có thể nói như vậy. Trận đọ sức kết thúc sau một tuần. Một ngày tôi không cẩn thận làm hắn phát hiện ra tôi. Hắn nổ súng ngay lập tức. Viên đạn đập vào miếng kim loại phía sau, bắn vào trong mũ sắt và ghim vào thái dương tôi. Khi nhìn thấy máu, tôi chỉ nghĩ đến một điều duy nhất: Băn trả. Tôi vớ lấy khẩu súng của đồng đội rồi nhắm vào hắn từ một góc khác. Tôi biết hắn sẽ nhảy lên để xem hắn làm được gì tôi. Sau khi hắn nhảy, tôi nhìn thấy vạch sơn trên mũ sắt của hắn thò lên trên bụi rậm. Tôi nhắm vào vạch sơn ấy và bắn. Rồi sau rốt không còn phát bắn nào từ vị trí đó nữa. Sau này tôi mới biết, hắn không phải là một người lính bắn tỉa, mà là một viên sĩ Đức. Tôi cảm thấy rất thỏa mãn, nhưng hình ảnh bàn tay của người sĩ quan Đức siết chặt thành nắm đấm và dứ dứ về phía tôi làm tôi phải nhớ cả cuộc đời”.

Mùa thu năm 1943, đạo quân số 3 tham gia các trận đánh lớn ở phía Tây. Quãng đường hành quân kéo dài qua những vùng đầm lầy khô cạn. "Cuộc hành quân đi bộ và bằng xe rời khỏi những con đường đất và đi qua những vũng lầy dưới những trận mưa rả rích. Ướt mèm và bùn ngập tới gối, chúng tôi nắm lấy cánh tay nhau để khỏi ngủ gật, và nếu có ai đó băt đầu lơ mơ ngủ hoặc gục xuống thì người đi ngay cạnh giúp vực anh ta dậy”. Kết quả của cuộc tiến công, những người lính Hồng quân Xô Viết giải phóng thành phố Nevel nằm cách không xa biên giới phía đông Belarus vào tháng 10 năm 1943. Nevel là một vị trí chiến lược quan trọng, và việc giành lại thành phố này từ tay quân thù sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Hồng quân trong vùng và khu vực Baltic. 

Bất chấp những đợt tấn công ác liệt từ phía địch, những người lính Xô Viết vẫn bám trụ lại. Và những nữ thiện xạ cùng sát cánh chiến đấu bên cạnh những người đồng đội nam. Chỉ trong một ngày của cuộc tiến công, họ tiêu diệt rất nhiều lính Quốc xã. Trong những phút ngắn ngủi mà tiếng súng im lặng giữa những trận chiến, những nữ chiến sĩ băng bó và chuyển thương binh tới nơi an toàn. Vì chiến công xuất sắc, đại đội nữ thiện xạ được trao danh hiệu Đại đội Cận vệ. Rất nhiều chiến sĩ thuộc đội thiện xạ nữ được trao huân chương, huy chương mà Nina Lobkovskaya là một trong số đó – bà nhận Huân chương Cờ đỏ.

Sau khi đợt tiến công ác liệt trôi qua, đạo quân số 3 bắt đầu phòng thủ. Tất cả những nữ chiến sĩ bắn tỉa đều được nghỉ phép một tháng, chỉ trừ Nina Lobkovskaya, bởi bà được chỉ định ở lại chỉ huy một trung đội mới được tăng viện. “Tôi cảm thấy khó chịu và bị tổn thương, vì tôi không thể về gặp gia đình. Nhưng chẳng có gì thay đổi, nên tôi kéo những “người lính bắn tỉa của tôi” tới quân đoàn tiếp viện”. Tất cả những cô gái mới đến đều tự nguyện ra mặt trận, họ tới từ nhiều vùng khác nhau của Tổ quốc, thuộc nhiều dân tộc khác nhau, nhưng lại có nhiều nét tương đồng, thậm chí chúng tôi như một gia đình, chia sẻ với nhau niềm vui nỗi buồn. “Sau khi chúng tôi quay trở về từ mặt trận, chúng tôi lại ngồi với nhau trong hầm trú ẩn và hát. Những cô gái ấy hát khá hay và họ hay hát những bài hát chiến tranh, thi thoảng một vài bài tình ca. Họ còn hát những bản dân ca vui nhộn và thậm chí bịa ra lời mà hát. Và cuối cùng, họ hát về những khẩu súng của họ, vật mà chúng tôi đã gìn giữ như con ngươi của mắt mình, không lúc nào rời thậm chí là cả khi đi ngủ”.

Trong một lá thư gửi về nhà, Nina viết: “Gửi mẹ, các em gái Zoya, Raya, Irochka và cậu em trai nhỏ bé Kolya! Hôm nay thật là một ngày hạnh phúc. Sau những trận chiến dài và ác liệt, con nghỉ ngơi và được thưởng 4 huân chương – Huân chương Danh dự. Con đã nói về nó trong những lá thư trước. Con khỏe, đừng lo lắng gì về con cả... Gửi mẹ và các em tình yêu và những nụ hôn. 

“Những người đồng chí nam tốt tới mức chúng tôi không thể tin được”, Nina Lobkovskaya nói, “đặc biệt là những người lính trinh sát cùng tuổi với chúng tôi. Một số cô gái đã phải lòng những người lính trinh sát hoặc pháo binh, và nhiều người đã làm đám cưới. Tôi luôn nhớ mãi những kỷ niệm ấm áp nhất với những người lính ấy”. Tuy nhiên, có một số người bày tỏ sự nghi ngờ của họ không giấu diếm. Một Đại tá đã thách thức Nina chứng minh kỹ năng bắn của mình khi thách cô bắn trúng vào một vòng tròn nhỏ trên tờ giấy kích thước bằng băng súng lục ở khoảng cách rất xa. “Nếu cô bắn trúng nó, tôi sẽ cho cô chiếc đồng hồ của tôi”. Lúc đầu, Nina lấy làm ngạc nhiên bởi bà chưa có một cơ hội nào như thế. Không thể từ chối lời, bà cầm lấy khẩu súng ngắn, cẩn thận ngắm bắn và bóp cò. Bà bắn trúng vòng tròn. Tuy không vào giữa nhưng viên Đại tá vẫn thực hiện lời hứa của mình và trao cho bà chiếc đồng hồ của ông.

Trong một trận chiến ác liệt tại vùng Baltic năm 1944, Nina bị thương nặng ở chân và được chuyển vào bệnh viện quân y, rồi sau đó bà trở về đơn vị cũ để tiếp tục chiến đấu – đầu tiên là trên đất Ba Lan, và sau đó và nước Đức. Bà viết trong cuốn hồi ký: “Những người lính thuộc phương diện quân Belarus số 1 vượt qua biên giới Đức vào ngày 29 tháng 1 năm 1945. Một trong những dấu hiệu cuộc tiến công nhắm thẳng vào Berlin là một tờ tranh cổ động lớn với những dòng chữ nằm trên nó cùng bàn tay lớn và đầy chai của ai đó: “Chúng mày đây rồi, bọn phát xít bất lương chết tiệt!”… Tất cả chúng tôi đều rất hạnh phúc vào những ngày ấy, khi được tấn công kẻ địch ngay trên sào huyệt của chúng”.

Khi chiến đấu, những nữ chiến sĩ luôn mơ về Ngày chiến tháng, ngày mà họ có thể trở về quê, rời bỏ bộ quân phục và mặc những bộ váy hè nhẹ nhàng. Và họ hết sức nỗ lực để biến mơ ước của mình thành hiện thực. Phát xít Đức đầu hàng vào ngày 8 tháng 5 năm 1945. 

“Ngày Chiến thắng, ngày mà chúng tôi mong ước bao năm qua, cuối cùng đã tới… Mọi người khóc trong sự sung sướng và ôm hôn những người khác để cảm nhận hạnh phúc đang dâng tràn trong họ. Và người đầu tiên thông báo tin đó được nhấc bổng và tung lên bởi hàng tá cánh tay giữa những lời reo hò vui sướng: “Hoan hô! Hoan hô! Chiến thắng!”. Khi ấy, Trung úy Nina Lobkovskaya chỉ mới 20 tuổi. Một nhà thơ chiến trường hồi ấy đã miêu tả bà như sau “chỉ là một cô gái, mũi cao và đôi môi mềm như một đứa trẻ”. Và đó là bà - một cô gái quyến rũ với nụ cười tinh nghịch nhìn bạn từ tấm ảnh cũ. Cùng với bà là “người đồng đội” mà bà mang trên đôi vai mỏng manh vốn dĩ không được phép mang những thứ như vậy – khẩu súng mà bà sử dụng cho tới hết cuộc chiến. Và chiến thắng là phần thưởng lớn nhất của bà.

© Olga Troshina (Đài tiếng nói Liên bang Nga)
© Quang Tiến (nuocnga.net) lược dịch
Một trong những ACE còn sống sót sau thế chiến thứ 2 của Nhật Bản với số chiến công là 50+


@ Ảnh chụp năm 1945 tại Không đoàn 302 đóng tại căn cứ Atsugi

----- // -----

Dưới đây là những dòng mà Saburo Sakai (một ACE huyền thoại khác của Nhật) đã viết về Sadaaki Akamatsu:

Năm 1945

Những chiếc P-51 (Mustang) và F6F (Hellcat) được quân Đồng Minh ào ạt tung vào mặt trận Thái Bình Dương với số lượng áp đảo. Trong khi đó, Nhật Bản lại gặp quá nhiều khó khăn trong việc sản xuất loại Mitsubishi J2M (Raiden) làm đối trọng (do thiếu nguyên liệu cộng với việc các nhà máy thường xuyên bị oanh tạc), bầu trời Tokyo gần như bỏ ngỏ. Mỗi ngày đều có chiến đấu cơ của chúng tôi bị cháy, cánh đứt lìa, nổ tung...

Thế nhưng, trong cuộc tàn sát khủng khiếp ấy, một ngôi sao sáng chói đã xuất hiện, một người có khả năng bay siêu việt: trung úy Sadaaki Akamatsu, một người khác hẳn với các đồng đội, khác biệt có thể nói như đêm với ngày.

Sadaaki là loại phi công không cần sách vở, một loại anh hùng ồn ào luôn vui vẻ. Akamatsu gia nhập Hải quân trước tôi gần mười năm, nhưng thăng cấp chậm chạp nếu so với những người có cùng thời gian phục vụ. Thật ra, hắn được thăng rồi lại bị giáng cấp rất nhiều lần và từng bị doạ sa thải khỏi Hải Quân vì hạnh kiểm thấp. Nhưng chứng nào tật nấy, hắn vẫn không cải hoá. Tuy nhiên, đó là một thiên tài trên không và vì vậy, Hải quân vẫn phải miễn cưỡng sử dụng.

Hạnh kiểm của Akamatsu làm cho các sĩ quan thượng cấp chết giấc. Trong các phi vụ, thay vì ngồi nghe thuyết trình như những người khác ở sở chỉ huy, thì hắn nằm lì trong lầu xanh với một hệ thống thông báo riêng. Và sau đó là phi như giông như gió ra sân bay trong một chiếc xe hơi cũ kỹ, một tay cầm lái, một tay cầm chai rượu. Trên không trung, hắn cũng làm loạn như ở dưới mặt đất. Nhưng đó là một trong số ít phi công của chúng tôi đạt chiến thắng khi đụng độ với cả hai loại chiến đấu cơ Mustang và Hellcat. Với chiếc Raiden trong tay, Akamatsu đã bắn rơi hơn 10 phi cơ địch, bao gồm cả 2 loại được coi là tuyệt hảo này. Một chiến công khó ai sánh nổi.

Thời gian đầu, Akamatsu chiến đấu liên tục hơn sáu năm ở Trung Hoa, rồi sau đó thuyên chuyển khắp nơi trong khu vực Thái Bình Dương. Hắn thường trở về căn cứ với chiếc phi cơ bị bắn tơi tả, vừa cười vừa la hét vang dội. Chính Akamatsu cũng không biết hắn đã bắn hạ được bao nhiêu phi cơ địch. Khi uống say, hắn đấm tay lên bàn và rống lên rằng mình đã thổi bay xuống đất ít nhất 350 phi cơ Đồng Minh nhưng lại không bao giờ khoe khoang như thế khi tỉnh táo. Nhiều phi công khác từng chiến đấu với hắn còn sống sót sau cuộc chiến đã điều chỉnh con số này xuống khoảng 50.

Tôi thường thấy Akamatsu đáp xuống căn cứ Oppama vì thiếu xăng và không thể về tới Atsugi. Mọi người trên mặt đất đều phấn khởi khi thấy hắn bước xuống phi cơ, dí mũi vô mấy lỗ đạn và nhe răng cười. Thấy tôi, hắn thét lên chỉ nhiều ngón tay lên trời, cho biết con số phi cơ mà hắn đã hạ trong ngày hôm đó. Đã hơn một lần Akamatsu cất cánh thực hiện một phi vụ gồm từ năm đến tám đồng đội và hắn là phi công duy nhất còn sống sót trở về. Các chiến đấu cơ P-51 Mustang là những con mồi mà hắn khoái nhất với sự kính nể không dấu diếm.

--- (Akamatsu sống sót sau chiến tranh, và mở một nhà hàng nhỏ ở Kochi, thành phố sinh quán của hắn trên đảo Shikoku. Năm 1980, Akamatsu chết vì bệnh ung thư gan) ---

© son.le
Hôm nay, mình dành để viết về ông, vị tướng lĩnh thứ 2 mà mình ngưỡng mộ tuyệt đối: Đô đốc Yamamoto Isoroku.

"... Trong 1 nước Nhật Bản hiện đại và bận rộn ngày nay, huyền thoại về danh tướng Yamamoto dường như đã bị quên lãng. Giới trẻ dường như không nghe, không biết, không đọc nhiều về người anh hùng mà thế hệ cha ông họ từng sùng kính. 

Yamamoto là một đô đốc vĩ đại, vượt lên các tướng lĩnh khác cùng thời bởi tầm nhìn chiến lược. Trong hơn một năm, từ chiến thắng hiển hách tại Trân Châu Cảng tháng 12/1941 cho tới ngày 18/4/1943, khi ông bị không quân Mỹ phục kích ám sát trên không phận đảo Bougainville, Yamamoto quả thực là một con rồng của huyền thoại, gây sóng gió và làm chủ một chiến trường mênh mông, bao gồm cả Thái Bình Dương và Ấn Ðộ Dương. Các địch thủ của Yamamoto vừa căm hận ông đến xương tuỷ nhưng cũng vừa kính sợ muôn phần. Ngay đến đô đốc huyền thoại của Hải quân Hoa Kỳ: Chester Nimitz cũng từng viết lại trong hồi ký mình rằng: "Kẻ thù đáng sợ nhất trong đời tôi chính là Yamamoto".

Ông là một chiến lược gia can đảm và xuất chúng. Tư tưởng quân sự của ông đi trước thời đại và trước các chiến lược gia khác, ngay cả Nhật và Mỹ. Ông đã làm chủ Thái Bình Dương trong suốt một năm rưỡi, và trong trận Guadacanal trước khi chết, Yamamoto đã tỏ rõ tài năng quân sự tuyệt luân của mình khi triệt thoái 13 ngàn quân Nhật mà chỉ chịu những thiệt hại rất nhỏ. Ðây là một kỳ công bởi rút quân bao giờ cũng khó hơn tiến quân rất nhiều. 

Người Nhật thương tiếc cho cái chết của ông, nhưng thực ra, cái chết của Yamamoto phản ảnh đúng sự tiên đoán của ông. Yamamoto vẫn thường tin rằng ông sẽ không sống sót đến sau cùng của cuộc chiến Thái Bình Dương, một trận chiến mà ông bất đắc dĩ phải tiến hành, và hơn ai hết, lúc nào ông cũng muốn làm bạn với người Mỹ. Tuy nhiên cũng nhờ cái chết mà ông không phải chịu nỗi nhục khi nhìn thấy nước Nhật bại trận. Ðiều đó đối với ông có lẽ còn đau đớn hơn cái chết.

Cuộc đời binh nghiệp của Yamamoto là hoàn hảo, hoàn hảo theo quan niệm của một samurai. Ông đã đạt tới tột đỉnh vinh quang của con đường binh nghiệp khi được phong làm Ðô đốc Tổng Tư lệnh Liên Hợp Hạm Đội, và có được niềm tin cũng như sự kính nể của toàn thể quân dân Nhật Bản. Cái chết của ông là một cái chết vinh dự cho một bậc anh hùng: được chết ngoài chiến trường, được chết trong lúc đang thi hành phận sự của một quân nhân. Đó là điều ông thường mong mỏi, như đã từng viết trong một bài thơ cuối cùng: 

Ta vẫn là một thanh kiếm 
Của Thiên Hoàng 
Ta sẽ không cắm vào vỏ kiếm 
Cho đến khi ta chết. 

Cuộc đời Yamamoto chỉ có một mục đích: phục vụ tổ quốc và Nhật Hoàng. Ông đã đạt được mọi ý nguyện, kể cả trong cái chết của mình..."

son.le
Tháng 10 / 2012

Đúng 8:00 sáng ngày 18/04 năm 1943, tại căn cứ không quân Nhật trên đảo Rabaul, đoàn công tác đặc biệt của Đô đốc Yamamoto Isoroku xuất kích. Hai chiếc Mitsubishi G4M (tên mã của Đồng Minh là “Betty”) được đánh số 1 & 2 lần lượt cất cánh chở theo những nhân vật tối quan trọng (I). Theo sau đó là 6 chiến đấu cơ Zero - do 6 phi công cực kỳ thiện chiến của Không quân Hải quân Hoàng Gia Nhật Bản điều khiển. Tất cả đều là những phi công thuộc hàng ACE, trong đó có Soichi Sugita (II) và Kenji Yanagiya (III).
6 chiếc Zero nhanh chóng áp sát 2 chiếc G4M và xếp theo đội hình 2-2-2 để hộ vệ. Hai chiếc bên trái, 2 chiếc bên phải và 2 chiếc phía trên, lùi lại đằng sau 1 chút để mở rộng góc quan sát. Một chuyến công tác được đánh dấu tuyệt mật, ngay cả với các đơn vị Nhật Bản đóng trên các đảo ở Thái Bình Dương. Sau 90 phút bay ở độ cao 2000 m, cả đoàn đến bờ Tây đảo Bougainville, chuẩn bị hạ cánh. Bất thình lình, nhiều tốp tiêm kích P-38 của Mỹ xuất hiện trên cao chuẩn bị không kích. 6 chiếc Zero hộ tống vội vứt thùng dầu phụ và vọt lên quần thảo với địch trong khi 2 chiếc G4M hạ thấp xuống gần các ngọn cây tìm cách hạ cánh khẩn cấp. Lúc này, một tốp 4 chiếc P-38 khác mới xuất hiện từ phía sau và xả đạn vào chiếc G4M đánh số 1. Lửa bùng lên ngay sau loạt đạn đầu, khói đen bốc lên từ cánh và nó bắt đầu cháy. Một chiếc P-38 khác trờ tới xả thêm 1 loạt đạn nữa, chiếc “Betty” số 1 rung lên, đụng vào 1 cành cây và rơi xuống 1 cánh rừng rậm trên đảo Bougainville. Chiếc G4M còn lại vòng ra biển nhưng cũng không thoát.
Chiều ngày 18, bộ chỉ huy Nhật ở Rabaul điện về Bộ Hải quân báo tin Đô đốc Yamamoto tử trận.
Ngày 20/4, một đội tìm kiếm Nhật tìm thấy xác chiếc G4M số 1 cùng 11 tử thi. Báo cáo viết: “Đô đốc Yamamoto chết ở tư thế ngồi, mặc quân phục xanh cỏ, tay đi găng trắng, tay trái nắm đốc kiếm, đầu trần. Ông chết do trúng đạn trước khi máy bay rơi.”. Một tàu vớt ngư lôi chở các thi hài về căn cứ rồi hoả táng. Các hộp tro xác được một thiết giáp hạm chở về Nhật. Mọi tin tức đều được giữ kín.
Về phía Mỹ, họ cũng im lìm không có thông cáo gì trước khi người Nhật chính thức xác nhận cái chết của Yamamoto. Trong nhật ký chiến sự của Hạm đội Thái Bình Dương hôm ấy chỉ ghi tóm tắt: “Hôm nay Tổng Tư lệnh Hạm đội Liên hợp Nhật Bản (có lẽ) đã bị máy bay chiến đấu P-38 của ta bắn chết trên vùng trời Bougainville.”
Mãi đến 1 tháng sau (ngày 20/5), phu nhân của Đô đốc Yamamoto mới được báo tin chồng tử trận (IV). Hôm sau, hộp tro xác Yamamoto về đến Tokyo. Lúc này, Nhật mới chính thức công bố bản tin:
“Tổng Tư lệnh Hạm đội Liên hợp, Đại tướng Hải quân Isoroku Yamamoto tháng 4 năm nay trong khi chỉ huy chiến đấu trên máy bay tác chiến với địch, đã không may hy sinh oanh liệt!”.
Tro cốt của ông được tách ra làm 2 phần để tổ chức 2 tang lễ. Một tổ chức ở Tokyo - nơi ông được an táng theo nghi thức quốc tang (trong lịch sử Nhật Bản, chỉ có 12 người có vinh dự được hưởng điều này) cạnh người tiến bối là Đô đốc Togo Heihachiro (V). Phần tro cốt còn lại được mang về quê hương ông, an táng tại quê nhà. Trong lịch sử, ngoài Đô đốc Nelson của Anh tử trận trong trận Trafalgar cho đến lễ tang của Yamamoto, chưa bao giờ có cảnh cả nước cùng đề tang 1 người sâu sắc như vậy (à, sau này còn cụ Giáp nhà mình nữa). Ông được Nhật Hoàng truy phong Đại Đô Đốc và truy tặng nhiều huân chương.
Vậy là trận không chiến ngắn ngủi ngày 18/04 ấy (diễn ra chỉ trong 2 phút 47 giây) với thiệt hại vỏn vẹn 2 chiếc G4M cho phía Nhật Bản (6 chiếc Zero đều an toàn trở về sau khi bắn hạ 3 chiếc P-38), nhưng lại để lại những mất mát và nỗi đau khôn tả. Có thể nói, đây cũng chính là 1 trong những bước ngoặt lớn trên mặt trận Thái Bình Dương, đánh dấu sự suy yếu toàn diện của đế quốc Nhật Bản trước Hoa Kỳ.
Tuy đã hơn 70 năm trôi qua, nhưng sự kiến “ám sát” Đô đốc Yamamoto vẫn để lại những câu hỏi “TẠI SAO” bí ẩn không có lời giải.
1. TẠI SAO YAMAMOTO PHẢI ĐÍCH THÂN CÓ CHUYẾN THỊ SÁT NÀY?
Đây là câu hỏi chính mà nhiều sử gia đã đặt ra ngay khi tiếp cận vụ “ám sát”. Họ không hiểu sao người Nhật lại làm như vậy, một hành động quá đỗi nguy hiểm khi chiến sự đang hồi khốc liệt nhất. Có cần thiết phải có chuyến thị sát của 1 sĩ quan cao nhất, nắm toàn bộ vận mệnh Hải quân đến tận vùng biên ải xa nhất mà quân Nhật đồn trú hay không?
Và giả thuyết lớn nhất mà họ thu được từ lời kể của những nhân chứng sống sót sau chiến tranh và các văn bản lưu trữ nghiêng về mục đích chuyến đi. Đây không phải 1 chuyến thị sát thông thường, mà nó đóng vai trò tối quan trọng trong việc vực lại tinh thần của Hải quân Hoàng Gia sau trận Midway. Với 4 mẫu hạm chủ lực bị đánh chìm cùng toàn thể chiến đấu cơ và đặc biệt là sự mất mát đến không thể hồi phục của gần 400 phi công tinh nhuệ trong trận Midway, đã khiến tinh thần tướng sĩ Nhật xuống đến mức chưa từng có. Tệ hơn nữa, nó làm những mâu thuẫn của tầng lớp sỹ quan cao cấp vốn trước đó khá lắng dịu sau sự hợp nhất dưới quyền Yamamoto nảy sinh trở lại và nhanh chóng tăng cao. Họ bắt đầu có thái độ nghi kỵ, chỉ trích và đổ lỗi lẫn nhau.
Chính vì thế, chuyến thị sát của Yamamoto không chỉ nhằm vạch ra các kế hoạch quân sự, mà nó còn là để lấy lại niềm tin và tinh thần chiến đấu cho các binh sĩ vốn vẫn chưa hết bàng hoàng sau những thất bại cay đắng vừa qua. Bên cạnh đó, nó sẽ giúp ông xoa dịu mối bất hoà giữa tầng lớp các sĩ quan Nhật cùng hướng đến mục đích chung trong những trận chiến sắp tới. Nếu Yamamoto không đích thân đi, thì còn ai có thể làm được 2 mục đích này?
2. SỰ CHỦ QUAN ĐẾN MỨC KHÓ HIỂU VỀ HỆ THỐNG MẬT MÃ NHẬT
Có thể nói, hệ thống mật mã Nhật gần như là nguyên nhân chính dẫn đến những thất bại khủng khiếp của chính họ trong cuộc chiến Thái Bình Dương. Những thắng lợi mang tính bản lề của hải quân Mỹ đạt được trước Nhật Bản như ở trận chiến biển San Hô, trận Midway hay cái chết của vị Đô đốc mà họ kính yêu đều có sự đóng góp bởi hệ thống mật mã Nhật.
Trước hôm Yamamoto bị ám 4 ngày, một tổ tình báo giải mã của hải quân Mỹ đóng tại 1 hẻm núi trên quần đảo Aleutians bắt được 1 bức điện báo của Nhật. Bức điện đóng dấu “tối mật” có nội dung như sau:
“Tướng quân GF (tức Yamamoto), lúc 8:00 ngày 18/4 sẽ đáp máy bay từ Rabaul đến Bougainville trên 2 phi cơ tấn công Mặt đất Kiểu 1 (tức loại Mitsubishi G4M). Đội hộ tống gồm 6 chiếc Zero. Phi đội đến nơi lúc 9:45, di chuyển bằng tàu ngầm đến Shortland. 11:30 đến nơi.”
Đây là sự chủ quan đến mức “không tưởng” khi tiết lộ hành trình đi lại của 1 tướng quân trong thời chiến đến mức chi tiết. Có người cho rằng người Nhật chủ quan vì loại mật mã JN-25 (Japanese Navy-25 Code) của họ là tối mật, khó ai có thể giải. Thực tế cho thấy điều đó không sai, cùng với Enigma của Đức, JN-25 của Nhật là bộ mã rất phức tạp khi thường xuyên thay đổi “code book” và kết hợp cả những ký tự Nhật (kanji) trong hệ thống mã hoá. Bên cạnh đó, muốn đọc được mã phải có cả “sách ám hiệu” hay còn gọi là “cipher book” trong tay. Nhưng hải quân Nhật có lẽ đã không lường tới 1 tình tiết: đó là khi đối phương bắt được toàn bộ hệ thống mật mã này (VI). Và đó là chìa khoá bản lề cho những chiến thắng sau này của phe Đồng Minh. Như trong 1 lá thư tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, tướng George Marshall đã viết:
“Trận đánh Biển San Hô đã đạt được trên cơ sở ta đã giải mật được những tin tức của Hải quân Nhật. Từ đó, số chiến hạm ít ỏi của ta đã được đặt vào đúng nơi, đúng lúc và đúng thời điểm.”
Cũng nhờ giải mật được toàn bộ hệ thống mật mã Nhật, mà mọi chiến lược, hoạch định của Yamamoto gần như luôn nằm trên bàn phân tích của các tướng lĩnh Mỹ.
Vậy tại sao sau khi đã bị lộ, người Nhật lại không thay đổi hệ thống mã?
Câu trả lời là vì người Mỹ quá cáo già khi những chiến thắng của họ… luôn được “thể hiện” dưới góc độ mà người ngoài nhìn vào dễ cho là may mắn. Ngay cả phi vụ “ám sát” Yamamoto, vốn được chuẩn bị kỹ lưỡng đến tận răng, nhưng đô đốc Chester Nimitz vẫn không quên ghi chú thêm 1 lệnh quan trọng: “phải làm sao như tình cờ chúng ta bắt gặp Yamamoto”. Chính vì thế, họ không huênh hoang. Các phi công cũng không được phép hé răng về nhiệm vụ. Mãi đến khi Nhật chính thức tuyên bố về cái chết của ông, người Mỹ mới lên tiếng.
Haiz… quả đúng như ông bà ta nói: “Ở đời, không sợ thằng ngu, cũng không sợ thằng khôn. Chỉ có thằng khôn mà giả ngu mới thực là đáng sợ!”
3. SỰ TÁC TRÁCH CỦA KẾ HOẠCH BẢO VỆ
Nếu kế hoạch thị sát tiền quân của Đô đốc Yamamoto theo luận điểm 1 là hợp lý? Vậy tại sao cách thực hiện lại sơ sài đến mức khó tin như vậy khi đội hộ tống chỉ gồm 6 chiến đấu cơ Zero? Tại sao không dùng 1 lực lượng hộ tống nhiều hơn, hoặc sử dụng tàu đường hàng hải thay cho đường không vốn nguy hiểm hơn?
Dĩ nhiên, việc dùng đường biển thay vì hàng không cho chuyến thị sát, với Yamamoto là an toàn nhất bởi ngoài soái hạm Musashi, ông còn lực lượng các khu trục & tuần dương hạm hộ tống. Tuy nhiên, khả năng dùng 1 hạm đội cho chuyến thị sát bị bác bỏ ngay. Vì nếu thế, thì tính chất của chuyến đi sẽ không còn ý nghĩa như nó dự định. Nến nếu phải huy động cả hạm đội cho 1 chuyến thị sát, cổ vũ sĩ khí tướng lĩnh thì có lẽ chuyến đi đã không còn tác dụng.
Vậy tại sao không sử dụng lực lượng hộ tống nhiều hơn mà chỉ vỏn vẹn 6 chiến đấu cơ?
Hoặc sẽ có 1 đoàn hộ tống khác phối hợp đón đoàn tại điểm chốt là không phận đảo Bougainville?
Với tôi, đây là 2 câu hỏi thực sự khó hiểu. Và với giới nghiên cứu, nó sẽ mãi mãi là 1 bí ẩn.
Vẫn biết với 6 chiến đấu cơ hộ tống là 6 phi công ACE, và là những phi công tinh nhuệ nhất của Hải quân Nhật Bản. Và thực tế đã chứng minh, họ là những phi công quá thiện chiến khi bắn hạ 3 chiếc P-38 mà không mất đi 1 người nào. Nhưng chỉ dùng 6 chiếc Zero để bảo vệ cho 2 chiếc G4M thì quả là 1 tỷ lệ đáng sợ nếu so với lực lượng tấn công của Mỹ. Ở phi vụ này, Mỹ sử dụng 18 chiếc P-38 (gấp 3 lần số chiến đấu cơ Nhật), chia làm nhiều nhóm với chiến thuật rất cụ thể. Nhóm mồi nhử, nhóm tấn công và nhóm trù bị.
Nhiều người trách các phi công Nhật đã quá dễ dàng khi bị mồi nhử lừa ra khỏi vùng yểm hộ. Nhưng với số lượng quá ít ỏi, chỉ 6 chiếc… họ phải làm sao khi phát hiện nhiều toán máy bay địch đang chuẩn bị tấn công? Trong thực tế không chiến, để yểm trợ cho 1 toán tải vận thành công thì số máy bay yểm trợ thường phải nhiều hơn so với số máy bay tấn công.
Một giả thuyết khác tạm cho là lớn nhất, đó là do tính chất “tuyệt mật” của chuyến đi, nên Yamamoto không sử dụng nhiều hộ tống. Nhưng vô hình chung, điều này lại dẫn đến bi kịch cho chính ông.
4. SỰ KHINH ĐỊCH TRƯỚC 1 ĐỐI THỦ LỚN
Đây có lẽ là lý do lớn nhất khiến người Nhật phải trả giá. Dĩ nhiên, không phải người Nhật không nghĩ đến những giả thiết Yamamoto bị phục kích, nhưng họ cũng có lý do để tin rằng người Mỹ không thể thực hiện điều này.
+ Người Mỹ không biết về chuyến thị sát. Hoặc nếu biết thì họ cũng không có loại máy bay nào của Mỹ trữ đủ dầu để thực hiện phi vụ này. Ngay cả những chiếc P-38 với thân kép, vốn dùng cho những trận chiến xa của không quân Hoa Kỳ cũng không thể đủ dầu cho khoảng cách từ căn cứ Guadacanal của họ đến quần đảo Bougainville. Thế nhưng, bằng nỗ lực không tưởng, người Mỹ đã cải tạo lại 18 chiếc P-38 dùng trong chiến dịch chỉ trong 3 ngày. Họ loại bỏ tất cả những thứ không cần thiết trên máy bay để tận dụng tối đa cho việc gia tăng kích thước của thùng nhiên liệu phụ. Bên cạnh đó là đề ra 1 chiến thuật bay hoàn hảo để có thể đến được điểm hẹn. Những chiếc P-38 ở 90% hành trình đều bay dưới độ cao cực thấp và giữ đều vận tốc để tiêu tốn nhiên liệu ít nhất. Khi đến gần điểm hẹn mới bất ngờ tách nhóm và vọt lên cao.
+ Để phục kích được chuyến thị sát của Yamamoto, đòi hỏi 1 sự chính xác tuyệt đối về thời gian để có mặt tại điểm hẹn. Bởi đây không phải 1 cuộc phục kích tại 1 điểm có sẵn, mà bên phục kích cũng phải khởi hành từ 1 nơi cách điểm hẹn đến hàng ngàn cây số. Không gian bao la, lại là 3 chiều… trong khi tất cả những vấn đề còn lại đều chỉ là sự phán đoán trên giấy tờ. Ví dụ như đoàn thị sát của Yamamoto sẽ bay ở tầm cao nào, vận tốc bao nhiêu, thời tiết có gì trở ngại không, có đến đúng giờ hay không… Tất cả đều là sự mông lung khi bạn là phi công trên 1 chiếc P-38 thực hiện phi vụ lịch sử này. Đó là chưa kể đến các áp lực khác như cảm giác nóng bức như thiêu đốt trong lò - như lời 1 phi công Mỹ sau này kể lại (vì P-38 được thiết kế cho việc không chiến ở tầm cao, nên hãng chế tạo Lockheed Martin đã không trang bị quạt thông gió trong buồng lái. Hay những nỗi lo lắng khi họ (vì 1 lý do gì đó) mà không đủ nhiên liệu để trở về…
Thế nhưng, như 1 chương phóng sự của kênh truyền hình National Geographic làm kết luận: người Mỹ đã biến tất cả những điều tưởng chừng không thể thành có thể, cộng thêm lòng dũng cảm và 1 chút may mắn… những phi công trên chiếc những P-38 ấy đã có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, và của cả cuộc chiến.
© son.le
Saigon / 2Ol7
© Tranh của Roy Grinnell
© Tài liệu tham khảo:
(1) Yamamoto: Con rồng Thái Bình Dương (Nguyễn Vạn Lý)
(2) Get Yamamoto (David Burke)
(3) Cái chết của Yamamoto (NXB Sông Kiên)
(4) Một vài nguồn khác như wiki, warhistory...
Ở 1 bài khác, tôi sẽ kể chi tiết hơn về kế hoạch bắn hạ Đô đốc Yamamoto của Hải quân Hoa Kỳ! Nó cũng rất thú vị!
//
+ Chú thích:
(I) - Trên chiếc G4M số 1, ngồi cùng với Yamamoto còn có đô đốc quân y Takata. Trên chiếc “Betty” thứ 2 có Tham mưu trưởng của Yamamoto là Đô đốc Matome Ugaki (Ugaki sống sót sau vụ ám sát này, về sau này ông trở thành cha đẻ của chiến thuật thần phong - kamikaze) và đề đốc hải quân Kitamura.
(II) - Soichi Sugita là một trong những ACE hàng đầu của Hải quân Hoàng gia Nhật Bản, với 70+ chiến công. Khi chiếc G4M của Yamamoto bị những chiếc P-38 bắn hạ, Sugita cũng vừa kịp bắn rơi 2 chiếc P-38 (mà sau đó phía Mỹ xác nhận chỉ có 1). Một chiến công vô nghĩa mà ông không bao giờ muốn nhắc lại! Sugita hy sinh ngày 15/4 năm 1945 khi phi cơ của ông đang chạy đà trên đường băng thì bị Trung tá Robert "Doc" Weatherup bắn lén từ phía sau.
(III) - Kenji Yanagida là phi công duy nhất trong 6 người hôm đó sống sót sau cuộc chiến. Số chiến công của ông dừng lại ở số 26 (sau khi mất tay phải trong phi vụ cuối cùng). Sau chiến tranh, ông giữ im lặng cả đời và luôn cho rằng mình phải chịu trách nhiệm trong vụ để Đô đốc bị ám sát hôm ấy mỗi khi có ai nhắc lại.
(IV) - Có lẽ, nhận biết thấy mình đang sống những ngày cuối cùng của cuộc đời, đêm trước đó Yamamoto đã viết một bức thư cuối cùng cho vợ, trong thư có kèm bản "Hòa Ca" và một nắm tóc của mình.
(V) - Togo Heihachiro: phong Hầu tước, Đại Đô Đốc hải quân, người anh hùng trong trận chiến Mãn Châu đã chôn vùi hạm đội Sa Hoàng trong trận hải chiến eo biển Đối Mã. Ông là một trong những anh hùng thủy tướng vĩ đại nhất của đất nước mặt trời mọc và được thờ như một vị thần cấp tòng nhất vị. Sau trận Đối Mã, báo chí phương Tây đặt cho ông biệt hiệu "Nelson của phương Đông".
(VI) - Tháng 2/1942… người Mỹ như vớ được vàng khi được trao lại 1 chiếc tàu ngầm gần như nguyên vẹn của Nhật từ hải quân New Zealand. Đó là chiếc tàu ngầm I-17, bị chiếc HMNZS TUI của New Zealand đánh chìm và sau đó mắc luôn vào lưới rà thuỷ lôi của chiếc khu trục. Trên chiếc I-17, người Mỹ thu được gần như toàn bộ hệ thống mật & giải mã JN-25.
Đăng ký: Nhận xét ( Atom )

Giới thiệu

Dành cho những ai cùng chung sở thích và niềm đam mê với Lịch sử quân sự. Ở page này, không có sự phân chia Địch / Ta, Thiện / Ác... không có những quan điểm chính trị được lồng ghép hay cổ xuý tuyên truyền... page chỉ đơn giản là những câu chuyện, thông tin, nhận định & đánh giá về một thời đã qua. Những trận đánh đã đi vào lịch sử, những chiến thuật huyền thoại, những con người, tướng lĩnh kiệt xuất... Và cuối cùng, đó là những cố gắng dù hạn chế của mình dành cho những ai cùng đam mê.

LATEST POSTS

  • Những bí ẩn trong vụ 11/9 (phần II)
    1. Vì sao Washington cho phép rất nhiều công dân Saudi Arabia, bao gồm nhiều người trong gia đình trùm khủng bố Osama bin Laden, rời nước Mỹ...
  • CÁI CHẾT CỦA ĐÔ ĐỐC YAMAMOTO VÀ NHỮNG CÂU HỎI "TẠI SAO"?
    Đúng 8:00 sáng ngày 18/04 năm 1943, tại căn cứ không quân Nhật trên đảo Rabaul, đoàn công tác đặc biệt của Đô đốc Yamamoto Isoroku xuất...
  • NGƯỜI HÙNG SƠN BẢN NGŨ THẬP LỤC
    Hôm nay, mình dành để viết về ông, vị tướng lĩnh thứ 2 mà mình ngưỡng mộ tuyệt đối: Đô đốc Yamamoto Isoroku. "... Trong 1 nước...
  • VỢ CỦA NGƯỜI PHI CÔNG THẦN PHONG
    Ghi chú: khổ quá, đây là phim các ông giời à. Mà lại là phim tình yêu, chứ không phải phim lịch sử! Nên các ông làm ơn bớt bớt việc ...
  • IOSIF STALIN - NGƯỜI ANH HÙNG DÂN TỘC HAY BẠO CHÚA KHÁT MÁU?
    Đầu năm 2005, tranh luận đã nổ ra ở thủ đô Moskva về việc có nên xây tượng đài cho nhà lãnh tụ Iosif Stalin hay không. Ở các hiệu sá...
  • NGŨ HỔ TƯỚNG” NHÀ THỤC HÁN TRONG CHÍNH SỬ: HUYNH ĐỆ, HÀNG TƯỚNG VÀ KẺ CHỊU THIỆT THÒI
    Đầu tiên, trước khi bắt đầu, tôi phải xin nói rõ 1 vấn đề mà cho đến nay, vẫn còn rất nhiều bạn nhầm lẫn. + Bộ "Tam Quốc Diễn Nghĩ...
  • CÓ HAY KHÔNG TÍNH CHÍNH THỐNG CỦA TRIỆU ĐẢ & NHÀ NƯỚC NAM VIỆT.
    Hôm nay, tôi xin tiếp câu chuyện về Triều Đà - tức Triệu Vũ Đế và nhà nước Nam Việt của ông. Quả thực, đây là 1 nhân vật gây nhiều tranh...
  • Tại sao Quang Trung đòi Lưỡng Quảng
    Đã bao giờ bạn tự hỏi điều đó? Có bao giờ bạn đặt ra câu hỏi đó không? Lịch sử hãy biết đặt câu hỏi, và bạn có thể hiểu nhiều hơn...
  • phi công “ace” huyền thoại Lydia Vladimirovna Litvyak.
    Hôm qua, khi tôi đăng status chúc mừng ngày 8/3, có nhắc đến “Đoá hồng Stalingrad”, nhiều bạn đã phỏng đoán đó là nữ xạ thủ Lyudmila...
  • VĨ ĐẠI VÀ BI HÙNG: “CÁO SA MẠC” ERWIN ROMMEL
    Tôi từng nói rằng “Tôi có một quan điểm riêng về người lãnh đạo: một người lãnh đạo tốt – xấu không phải theo lịch sử ghi nhận hoặc the...

Categories

  • 1000 Năm Bắc Thuộc
  • 11-09
  • An Dương Vương
  • Âu Lạc
  • Bác Hồ
  • Biển Việt Nam
  • Chăm Pa
  • chiến hạm Trung Quốc
  • chiến tranh thế giới thứ 2
  • Dũng Phan
  • Đại Ngu
  • ERWIN ROMMEL
  • Formosa
  • Gạc Ma
  • Gia Long
  • Hoàng Sa
  • Hồ Chí Minh
  • Hồ Quý Ly
  • IOSIF STALIN
  • khủng bố
  • Lê Thánh Tông
  • Lê Tư Thành
  • Lịch sử
  • Lịch Sử Cận Đại
  • Lịch Sử Thế Giới
  • Liên Xô
  • lũ lụt
  • lưu bị
  • Lydia
  • Mỹ
  • Nam Việt
  • Nga
  • ngập úng
  • Nguyễn Ánh
  • Nguyễn Huệ
  • nhà Hán
  • nhà Minh
  • nhà Thanh
  • Nhật Bản
  • Nho giáo
  • Nina Alexeyevna Lobkovskaya
  • Nữ thiện xạ
  • Phát Xít Đức
  • phi công Thần Phong
  • Phong Kiến
  • Putin
  • quan vân trường
  • quảng bình
  • Quang Trung
  • Sadaaki Akamatsu
  • Sài Gòn
  • Tam quốc diễn nghĩa
  • Tetsuo Tanifuji
  • Thành nhà Hồ
  • Thỗ Nhĩ Kỳ
  • thủy điện xả lũ
  • Trần Thiêm Bình
  • triều cường
  • Triệu Đà
  • triệu tử long
  • Trung Quốc
  • trương phi
  • Trường Sa
  • Việt Nam
  • Xã Hội Hiện Tại
  • Yamamoto Isoroku
Được tạo bởi Blogger.

Facebook

Lưu trữ Blog

  • ▼  2017 (9)
    • ▼  tháng 5 (9)
      • Cách xưng hô của Hồ Chí Minh
      • phi công “ace” huyền thoại Lydia Vladimirovna Litv...
      • VĨ ĐẠI VÀ BI HÙNG: “CÁO SA MẠC” ERWIN ROMMEL
      • Nữ thiện xạ Nina Alexeyevna Lobkovskaya (89 kills)
      • Thiên tài lập dị: Sadaaki Akamatsu
      • NGƯỜI HÙNG SƠN BẢN NGŨ THẬP LỤC
      • CÁI CHẾT CỦA ĐÔ ĐỐC YAMAMOTO VÀ NHỮNG CÂU HỎI "TẠ...
      • NGŨ HỔ TƯỚNG” NHÀ THỤC HÁN TRONG CHÍNH SỬ: HUYNH Đ...
      • CÓ HAY KHÔNG TÍNH CHÍNH THỐNG CỦA TRIỆU ĐẢ & NHÀ N...
  • ►  2016 (18)
    • ►  tháng 10 (18)

Từ khóa

áo thun polo nam | quần áo thể thao nữ
áo sơ mi nam | áo t-shirt nam | quần kaki nam
quần short kaki | quần áo nỉ nam
đồ lót nam | váy polo | áo lót nữ
bít tất nam | quần váy nữ | quần lót nữ | váy thun
| bộ nỉ nữ | đồ lót trẻ em

Liên kết hữu ích

1000 NĂM BẮC THUỘC
PHONG KIẾN
LỊCH SỬ CẬN ĐẠI
XÃ HỘI HIỆN TẠI
LỊCH SỬ THẾ GIỚI

Liên hệ

Copyright 2014 Lịch sử Việt Nam .
Blogger Templates Designed by Thị Trường Cà Phê